Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy - Chương 150

Chương 150:

- Bồ Trung Tửu -

Khác với tầng lớp nô lệ hay dân lao động chỉ quấn quanh hông những tấm vải đay thô cứng được gọi là Carter, y phục của giới quý tộc mang đậm tính thiết kế, chất liệu cũng tinh tế hơn một trời một vực. Loại vải họ dùng là sợi đay được xử lý kỹ càng, tẩy trắng cẩn thận, mềm nhẹ và thoáng mát, tựa như những nếp váy ngắn được xếp tinh xảo, viền mép thêu chỉ vàng, khảm thêm đá quý. Mỗi khi bước đi, lớp vải khẽ lay động, ánh sáng phản chiếu lấp lánh như sóng vàng nhấp nhô trên mặt sông Nile.

Người hầu cẩn thận nâng chiếc vòng cổ ô tắc khắc phức tạp, đính đầy hạt châu nhiều màu rực rỡ. Mỗi khi những viên đá chạm nhẹ vào nhau lại vang lên tiếng leng keng trong trẻo. Hắn vừa định đeo vòng lên cổ thần sứ thì bị một cử chỉ khoát tay khẽ khàng ngăn lại.

Giờ đã là chạng vạng, hơn nữa lấy lý do thân thể không khoẻ, Tân Hòa Tuyết xin phép được nghỉ trong cung điện, không ra ngoài nữa. Cũng vì thế, y không muốn mang thêm những món trang sức cầu kỳ, rườm rà.

Người hầu đành thôi không điểm thêm trang sức khác cho thần sứ, thay vào đó khoác lên vai thần sứ một chiếc áo choàng mỏng nhẹ như cánh ve, rồi cúi đầu chỉnh lại cho ngay ngắn.

“Có thể dọn cơm rồi.”

Tân Hòa Tuyết ra lệnh.

Y cố nén cơn khó chịu còn sót lại trong người, chậm rãi bước về phía cửa cung điện. Lúc ấy, người hầu đang thu dọn mớ hỗn độn trên tấm thảm.

“Chuyện gì xảy ra ở đây vậy?”

Tân Hòa Tuyết nghe thấy tiếng ly vỡ vang lên, lúc đến nơi thì thấy ly rượu vàng đã lăn khỏi thảm. Nhưng vì khi ấy y đang thay y phục, nên cũng chẳng để ý kỹ nơi phát ra tiếng động.

“Điện hạ Anath vừa mới đến. Tôi dâng rượu mời trong điện,” người hầu cung kính đáp, rồi khẽ hạ giọng, thoáng chút lo lắng, “Ngài ấy trông như một con sư tử nổi giận… nhưng rồi cũng nhanh chóng rời đi.”

Người hầu thầm bất an, chẳng lẽ là vì rượu không hợp khẩu vị, nên khiến điện hạ Anath tức giận? Nếu quả thật như vậy, chẳng phải hắn đã vô tình phá hỏng mối quan hệ giữa Anath điện hạ và thần sứ sao?

Tân Hòa Tuyết lại chẳng bận tâm đến tâm tình thất thường của vị hoàng tộc kia, rốt cuộc, hắn không phải là nhân vật mục tiêu để cần phải lấy lòng.

“Không sao. Lần sau nếu hắn đến, báo cho tôi biết trước là được.”

………

Thực ra, sau chuyện đó Tân Hòa Tuyết cũng không trừng phạt Saito, càng không cấm hắn bước chân vào cung điện này.

Khi ấy, toàn bộ sự chú ý của Tân Hòa Tuyết đều bị thu hút bởi chiếc đuôi trắng tinh của y, vì vậy những việc khác đều bị y quẳng ra sau đầu.

Thế nhưng kể từ lúc trở về, Saito lại như bị sợi xích vô hình trói chặt trước cửa, đứng canh gác y hệt một con chó giữ cổng, hắn như muốn thay thế hộ vệ canh giữ ở bên ngoài cung điện.

Tân Hòa Tuyết chỉ liếc nhìn thoáng qua, rồi khẽ phất tay.

Dù thân hình của vị hoàng tộc này vẫn cao lớn hiên ngang, nhưng không hiểu sao lại toát ra một vẻ buồn bã, chán nản phảng phất như một con sói xám với bộ lông ảm đạm.

Tân Hòa Tuyết hơi nhướng mày, có chút ngạc nhiên.

Trông dáng vẻ ấy, chẳng lẽ Saito thật sự sợ y nổi giận sao?

“Chậc.”

Y nhất thời không muốn bắt bẻ, khẽ phun ra miếng thịt cá vướng phải xương.

Saito ngẩng đầu lên, vừa kịp thấy nơi khóe môi thần sứ ánh lên một sắc trắng tựa vỏ sò, trong khe hở ấy lấp ló đ** l*** **t *t đỏ tươi…

Người hầu đang cúi đầu xin lỗi vì sơ suất, rồi càng thêm cẩn trọng, dùng con dao nhỏ và chiếc kẹp đồng loại bỏ xương ra khỏi miếng cá.

Nhưng chỉ qua vài lần như vậy, vị trí của hắn đã bị vị hoàng tộc kia thay thế.

Saito đứng vào chỗ người hầu vừa rời đi, cúi đầu, vụng về bắt chước động tác ban nãy, cẩn thận tách từng thớ thịt trắng ngà, nhặt ra những chiếc xương nhỏ.

Đến khi hoàn thành, lấy được hết xương cá ra ngoài đĩa, hắn mới như vừa vượt qua một công việc nhọc nhằn, tuy mặt không biểu cảm, nhưng ai cũng cảm nhận được một hơi thở nhẹ nhõm thoát ra. Sau đó, hắn gắp miếng thịt cá mềm mịn, đặt nhẹ vào bát của Tân Hòa Tuyết.

“Làm không tệ.”

Tân Hòa Tuyết hơi nâng cằm, liếc nhìn Saito với ánh mắt như một con mèo kiêu ngạo, trong ánh nhìn ấy ẩn chứa sự tán thưởng không hề che giấu.

Chính vào lúc đó, Lahotep bước vào cung điện và bắt gặp cảnh tượng ấy.

Hắn hơi nheo mắt lại, ánh nhìn chậm rãi dừng nơi người đang cẩn thận dùng bữa bên cạnh thần sứ. Sau khi xác nhận đó đúng là người em cùng cha khác mẹ của mình, Lahotep liền hiểu: Saito đã hoàn toàn bị vị thần sứ này mê hoặc, sắp sửa bị thuần phục đến mức trở nên ngoan như một phôi sáp.

Lahotep giả vờ như không thấy, thản nhiên tiến vào trong điện.

“Vizier vừa rồi khi báo cáo công việc có nhắc đến chuyện chế tác pha lê. Hắn bảo tôi truyền đạt lại ba ngày nữa, không biết thần sứ có thời gian cùng hắn đến xem qua thành quả của thợ thủ công hay không?”

“Dĩ nhiên, tôi cũng rất muốn tận mắt chứng kiến.”

Khi nói, ánh mắt Lahotep dừng lại trên gương mặt điềm tĩnh của Tân Hòa Tuyết, đôi mắt tĩnh lặng như ánh trăng rọi xuống mặt hồ.

………

Thành phẩm quả thật khiến người ta vô cùng hài lòng. Pha lê trong suốt như gương nước, sáng rỡ đến mức phản chiếu ánh sáng lung linh trên ly rượu trong tay. Trông qua, nó giống hệt như trái nho vừa được hái từ giàn xuống, lớp vỏ còn đọng lại sắc nước óng ánh tươi mới.

Lahotep khẽ vuốt ngón tay dọc theo phần đế ly, nơi vẫn còn in rõ dấu dấu ấn lồi lõm. Hắn nâng chiếc ly lên, chỉ vào chỗ sai biệt nhỏ nơi thân ly, đó là một vết hằn kỳ lạ, như tay mèo để lại.

Ánh mặt trời vàng kim xuyên qua dấu vết ấy, khúc xạ thành những tia sáng lấp lánh trong đôi mắt Lahotep.

Hắn không biểu lộ cảm xúc gì, chỉ lạnh nhạt hỏi người thợ thủ công đang cúi đầu cung kính:

“Thứ này có thể sản xuất hàng loạt không?”

Người dẫn đầu thợ thủ công vội đáp:

“Dạ được, thưa bệ hạ. Chúng thần đã có khuôn đúc tinh vi nhất, và ngọn lửa trong xưởng rèn sẽ không bao giờ tắt.”

Lahotep gật đầu hài lòng.

“Tốt. Tôi muốn trong lễ hiến tế Thần Ngưu sắp tới, mỗi người đều có thể nâng ly rượu này trong tay. Ai ai cũng xứng đáng nhận được ân huệ của thần linh, chẳng phải sao?”

Nói đoạn, hắn quay người nhìn về phía thần sứ đang khoác áo choàng dài. Từ khe hở nhỏ nơi mũ trùm, có thể thấy thấp thoáng đôi mắt hồng phấn của đối phương.

Mặc dù hắn biết đôi môi thần sử có đường cong hoàn mỹ, đầy đặn mà tinh xảo. Khi Tân Hòa Tuyết khẽ cong môi cười, nụ cười ấy mờ nhạt dưới bóng mũ choàng nhưng lại khiến người ta liên tưởng đến vầng trăng non soi qua sương sớm, thấp thoáng giữa ốc đảo yên tĩnh nơi sa mạc.

Lahotep rất hiếm khi thấy trên gương mặt thần sứ xuất hiện cảm xúc rõ ràng như vậy.

Khi nhận ra bản thân đã nhìn y quá lâu, Lahotep thoáng khựng lại, Tân Hòa Tuyết lập tức tránh đi ánh nhìn ấy, mũ choàng rũ xuống, che khuất ánh trăng dịu nơi đáy mắt.

“Đi cùng tôi dạo một vòng đi, Iah.”

Giọng Lahotep vang lên.

………

Rất nhanh, Lahotep nhận ra rằng Iah mang đến cho hắn những điều ngạc nhiên vượt ngoài mong đợi.

Vì biết thần sứ sức khỏe yếu hơn người thường, lần này khi ra ngoài, Lahotep đặc biệt chọn loại kiệu xa hoa nhất, và đích thân mời Iah cùng ngồi.

Chiếc kiệu ngồi được chế tác từ gỗ keo (Acacia) cứng cáp, được thợ thủ công mài giũa đến nhẵn bóng, phủ bên ngoài một lớp vàng mỏng khiến nó tỏa sáng rực rỡ dưới ánh mặt trời như thể được đúc từ kim loại quý. Bốn góc kiệu treo rèm lụa đan bằng sợi đay mảnh, dệt xen kẽ ba màu hồng, vàng và lam, viền quanh là những hoa văn tinh xảo khắc họa cỏ cây và mặt trời đang tỏa sáng.

Chỉ có những sắc thái rực rỡ như thế mới xứng với uy nghi của một vị Pharaoh.

Bên trong, lớp đệm nhung mềm mại được nhồi thêm lông chim và bông trắng, khiến việc di chuyển trở nên êm ái, gần như không còn cảm giác chao nghiêng.

Khi Pharaoh xuất hành, đoàn tùy tùng đi cùng quả là vô cùng đồ sộ, khổng lồ ngoài những người khiêng kiệu, còn có thị vệ, quý tộc, quan viên và những tùy tùng trọng yếu hộ tống ở hai bên.

Tân Hòa Tuyết liếc nhìn ra ngoài: Vizier, Saito và Nubu đều đi ở hàng trong gần nhất.

“Hàng rèm này đã che bớt phần lớn ánh nắng rồi. Ngài thấy có dễ chịu hơn chút nào không?”

Lahotep nhỏ giọng, hỏi người ngồi bên cạnh.

Nghe câu hỏi ấy, thanh niên khẽ phất tay, bỏ chiếc mũ choàng trắng ra. Mái tóc trắng bạc dài như dải ngân hà đổ xuống, ánh nắng xuyên qua lớp rèm ngũ sắc, phản chiếu những vệt sáng rực rỡ trên từng sợi tóc.

Mái tóc buông dài đến thắt lưng, vài sợi mảnh bay lượn theo gió, khẽ chạm vào bàn tay Lahotep.

Cảm giác ấy... mượt mà, mát lạnh.

Khoảng cách giữa họ gần đến mức, Lahotep có thể cảm nhận được hương gỗ đàn hương nhè nhẹ lan tỏa từ người thần sứ.

Thần sứ không nói nhiều, khí chất yên tĩnh và thanh nhã. Y khẽ vén góc rèm, để ánh sáng tràn vào, tầm mắt hướng ra ngoài, thành Thebes hiện lên rõ ràng trong tầm nhìn.

Bên ngoài, dân chúng từ thường dân đến người hầu trong các phủ quý tộc đang múc nước từ những con kênh chằng chịt chảy quanh thành, dùng những thùng gỗ gác trên vai.

“Người dân ở Thebes đều dựa vào mạng lưới kênh rạch chằng chịt này để lấy nước sinh hoạt sao?”

Tân Hòa Tuyết quay đầu hỏi.

Lahotep gật đầu.

So với những kinh đô cũ, thành Thebes mới này vẫn còn nhiều nơi chưa hoàn thiện, vẫn cần tiếp tục tu chỉnh.

“Có giấy làm từ cói và bút làm bằng cỏ lau không?”

Tân Hòa Tuyết hỏi tiếp.

Lahotep lập tức ra lệnh cho viên thư lại mang đến những thứ y cần. Ở nơi này, người dân thường dùng khoáng vật thiên nhiên để làm thuốc màu viết và vẽ: mực đen chế từ than nghiền, mực màu lam đến từ khoáng chất cobalt.

Tân Hòa Tuyết trải tấm giấy cói ra, tước ngòi bút lau, chấm nhẹ vào mực, rồi bắt đầu phác thảo. Trên mặt giấy, từng nét bút vẽ ra hình ảnh thành phố phía sau hoàng cung, những con đường, những dòng kênh đan xen như mạng lưới.

Lahotep lặng lẽ nhìn. Hắn biết, kể từ khi thần sứ đến đây, ngoại trừ lần đi cùng Vizier đến xưởng thủ công, ngày thường Tân Hòa Tuyết hầu như chưa từng rời khỏi cung điện. Ấy vậy mà chỉ dựa vào trí nhớ, y lại có thể vẽ lại thành phố gần như chính xác từng chi tiết, thật khiến người ta kinh ngạc.

Từng nửa phía đông của Thebes, những con đường và dòng kênh chằng chịt dần hiện lên từ nét mực đen và lam.

Tân Hòa Tuyết cúi đầu, dùng lòng bàn tay nhẹ chạm vào tấm bản đồ.

“Mấy khu vực này,” y chỉ, “có thể xây những hồ chứa nhỏ....ừm dạng như hồ lắng trầm tích. Khi mùa nước lũ đến, có thể giữ lại phần nước dư, để dành cho mùa khô tưới tiêu. Tuy nhiên, cần kết hợp hệ thống đập nước và lưới lọc ở cửa kênh để ngăn bùn cát chảy vào dòng chính.”

Y lại vòng thêm vài nét nữa, nói tiếp:

“Nếu mở thêm các kênh nhánh ở khu vực này, có thể đưa hơi nước lan xa hơn khỏi sông Nin, kết hợp với những con đường phụ để xe chở nước đi lại, mang nước lên các vùng đất cao khô hạn phục vụ tưới tiêu.”

Vì suy xét đến nguồn nước quý giá, việc phân vùng tưới tiêu cũng cần được tính toán kỹ, căn cứ vào độ cao địa hình và loại cây trồng, để quy hoạch thời điểm và lượng nước phù hợp…

Tân Hòa Tuyết chìm trong suy nghĩ. Y đã từng xem qua các hệ thống nông nghiệp và chủng loại cây trồng ở cửa hàng, nên bắt đầu tự hỏi: liệu các giống năng suất cao kia có thể thích ứng với khí hậu nơi đây hay không.

Khi nhận ra mình đã im lặng khá lâu, y ngẩng đầu thì thấy Lahotep đã thêm nét bút lên bản đồ, nối liền phần còn lại của bức họa, phác ra nửa phía tây thành phố cùng những con kênh đan chằng chịt.

Lahotep quá quen thuộc với vùng đất này, chính tay hắn đã chọn nơi đây làm kinh đô mới. Dù trí nhớ không thể sánh với thần sứ, nhưng hắn từng nhiều lần tự mình đi khắp vùng đất ven sông Nin này để đo đạc từng bước một.

Hắn nhìn Tân Hòa Tuyết, ánh mắt kiên nhẫn, chờ đợi lắng nghe.

Bỗng nhiên, phía trước vang lên tiếng huyên náo hỗn loạn, tiếng người hô hoán, tiếng vó ngựa dồn dập. Kiệu phải dừng lại.

Lahotep lập tức đứng dậy, ra hiệu cho Tân Hòa Tuyết phủ lại áo choàng trắng, rồi vén rèm lên. Thấy rõ cảnh tượng bên ngoài, sắc mặt hắn lạnh xuống.

“Anath! Giữa phố xá đông đúc mà dám phi ngựa đó là cách cậu thể hiện lễ nghi hoàng tộc sao?”

Vó ngựa giơ cao, giẫm mạnh xuống đất, tung bụi cát mịt mù.

Anath từ trên lưng ngựa nhảy xuống nhẹ nhàng, động tác dứt khoát. Trong tay hắn còn nắm cổ áo một người đàn ông đang quỳ rạp trên đường, ngay trước kiệu. Người nọ run rẩy ngẩng đầu, giọng run run:

“Pharaoh tôn quý, chủ nhân vùng đất ven sông Nin…”

Đôi mắt sắc bén của Lahotep khẽ nheo lại hắn nhận ra người này. Năm trước, trong lễ tế Thần Ngưu, kẻ này từng là sứ giả đến yết kiến, thay mặt một lãnh chúa quý tộc.

“Vương huynh.”

Anath bước lên, định giải thích, nhưng ánh mắt hắn chợt dừng lại nơi bóng áo choàng trắng trong kiệu.

Ánh nhìn hắn lướt qua giữa Pharaoh và thần sứ, trong lòng khẽ dấy lên một hạt giống nghi ngờ.

Vẻ mặt sứ giả phẫn uất, bẩm rằng: từ ba tháng trước, lãnh địa của hắn liên tục bị quân phản loạn tập kích cướp bóc. Giờ đây, phản quân đã chiếm giữ đập nước phía bắc, khống chế toàn bộ nguồn nước.

Lực lượng binh sĩ trong lãnh địa quá yếu, không đủ để chống trả đám quân phản loạn to gan lớn mật. Bất đắc dĩ, hắn mới đến cầu xin triều đình cử quân giải cứu.

Trong khi đó, khóe mắt Tân Hòa Tuyết thoáng liếc ra ngoài nơi góc đường, có một bóng người đang vụng trộm quan sát. Khi ánh nhìn của y quét qua, kẻ đó liền né tránh, chỉ để lại vạt váy vương bụi bay lên trong gió.

Tân Hòa Tuyết khẽ cúi người, nghiêng đầu thì thầm điều gì đó với Nubu ngồi bên cạnh.

……

Kẻ theo dõi đã bị Nubu âm thầm bắt giữ và áp giải vào trong cung điện của thần sứ vào đêm sau.

Do chính Tân Hòa Tuyết hạ lệnh, Nubu dù là khi bắt hay khi đưa người đi, cũng phải tuyệt đối kín đáo, không để lọt tai mắt của bất kỳ ai.

Đêm khuya yên tĩnh.

Kẻ bị bắt là một nữ nô đến từ Assyria. Nàng yêu cầu được diện kiến riêng với Tân Hòa Tuyết.

“Tôi chỉ nói chuyện với thần sứ.”

Nàng đứng thẳng, giọng nàng mang âm điệu Ai Cập khác biệt hẳn so với người Thebes.

Trước cái nhìn không tán đồng của Nubu, Tân Hòa Tuyết khẽ phất tay, ra hiệu cho tất cả lui xuống, trong đó dĩ nhiên cũng có Nubu.

Dưới ánh đèn lay động, nữ nô Assyria rút ra một chiếc bình nhỏ, thứ nước thuốc từng được nàng dâng cho Đại Tư tế của thần màu mỡ Osiris.

Chất lỏng trong bình khẽ lắc lư, ánh lên dưới trăng, như mang theo sắc thái yêu dị của quỷ mị.

Bằng thứ tiếng Ai Cập không quá lưu loát, nàng kể lại cho Tân Hòa Tuyết nghe về âm mưu đen tối của vị lão tư tế ấy.

“Vì sao cô lại nói với tôi điều này?”

Tân Hòa Tuyết đứng dậy khỏi ghế, bước đến gần trước mặt nữ nô.

Nữ nô khẽ nhoẻn miệng cười, rồi nàng chậm rãi cất tiếng, ngâm nga một chuỗi âm thanh thần bí.

Đó không phải là ngôn ngữ Ai Cập.

Tân Hòa Tuyết nghe mà không hiểu.

Nàng nhìn y, nụ cười càng thêm ngọt ngào.

………

Sau đó, trong bóng đêm nơi vách đá gần cung điện, nữ nô ngồi nép mình. Nàng cắn đầu bút làm bằng cỏ lau, viết vài dòng cuối lên tờ giấy cói, rồi dùng sợi dây mảnh buộc chặt cuộn giấy vào chân con đại bàng vàng kim.

Nàng vỗ nhẹ lên lưng chim.

Đại bàng tung cánh, những sợi lông mạnh mẽ đập lên gió, mang theo bức thư, bay vút vào đêm, ngược dòng gió từ Địa Trung Hải, hướng về phương Bắc xa xăm.

....Vị khách đến từ bầu trời, thật mỹ lệ.

Đó là câu trả lời của nàng, bằng tiếng Assyria, dành cho Tân Hòa Tuyết.

Sau này, mỗi khi nghĩ lại, nàng chỉ tự hỏi: làm thế nào để có thể mời được vị khách mỹ lệ ấy xuống miền Hạ Ai Cập đây?

Khóe môi nàng khẽ cong, nụ cười ngọt ngào như mật ong rừng. Nhưng khi nghĩ đến việc còn phải quay lại đối phó với đám tín đồ trung thành của lão tư tế, nụ cười ấy dần tan biến.

………

Khi Nubu trở lại cung điện.

“Thần sứ đại nhân, ngài thật sự cứ để nàng rời đi như vậy sao? Nếu ngài đổi ý, chỉ cần một mệnh lệnh, tôi sẽ bắt nàng trở lại ngay.”

Tân Hòa Tuyết lắc đầu:

“Không cần đâu, Nubu. Chuyện này chỉ là một hiểu lầm thôi. Nàng ta… là một người đáng thương.”

Nubu vẫn cảm thấy nữ nô kia hành tung đáng ngờ, nhưng hắn tuyệt đối không dám nghi ngờ quyết định của Thần Sử.

Chỉ là về lọ ma dược ấy...

Tân Hòa Tuyết nhớ lại thứ chất lỏng mang sắc thái quỷ dị kia.

Y đã biết rõ công dụng của nó từ lời nữ nô.

Y không tịch thu, cũng chẳng trừng phạt. Y để nàng đi, không hề đòi hỏi bất cứ cái giá nào.

Và nếu mọi chuyện vẫn diễn ra đúng như âm mưu của lão tư tế…

Thì có lẽ, trước khi điều đó xảy ra, y đã bắt đầu suy nghĩ nếu loại thuốc kia quả thật có tác dụng thần kỳ đến thế, vậy ai sẽ là người xứng đáng để dùng nó phục vụ cho y đây?

Ngón tay y lật nhẹ viên xúc xắc bằng ngọc mà thợ thủ công dâng tặng, rồi bất ngờ ném mạnh ra ngoài.

“Kịch kịch.... tõm!”

Âm thanh nhỏ bé vang lên, viên xúc xắc rơi tõm xuống mặt hồ tắm.