Hồng Bạch Song Hỉ - Chương 69

Chương 69:

- Ayeayecaptain -

“Dẫu gần tựa cách ngàn dâu, xin cùng cạn chén ly sầu tiễn đưa. Chưa uống lòng đã say sưa, máu tuôn lệ mắt, lòng mưa tro tàn… (1)”

Giọng hát ngân nga uyển chuyển vang lên, Ô Tử Hư ngồi dưới hiên, tay cầm một chiếc quạt giấy trắng, đang nhắm mắt thư giãn.

Đợi khúc hát vừa dứt, anh khẽ nâng quạt lên, “Có một chỗ lấy hơi chưa đúng. Câu của Oanh Oanh đó, lại lần nữa nào.”

Trong sân trồng kín hoa chu tước, chùm hoa buông rủ thành chuỗi, tán lá sum suê rậm rạp. Chu Ấm Tiêu đứng dưới tàng cây, giơ tay lấy dáng, trong ánh mắt đã phảng phất mấy phần thần thái khi hát xướng cửa Ô Tử Hư.

Thiếu niên vừa ngân lên một làn điệu đã bị một giọng nói cắt ngang, “Tôi nói này, hai người léo nhéo ở đây cả ngày không thấy chán à?” Tùng Vấn Đồng vác cuốc bước vào sân, để m*nh tr*n, tóc mướt mồ hôi nhỏ giọt.

“Chúng tôi thấy vui mà.” Ô Tử Hư phe phẩy quạt, “Riêng cậu đó lão Nhị, hồi ở thư viện thì tỉa tót cây ngân hạnh, đến Côn Luân lại đào bới cây chu tước. Tôi thấy nửa ngọn núi này sắp bị cậu xới đất lên hết rồi đấy, cậu không mệt à?”

Họ đã ở núi Côn Luân hơn một tháng. Trong thời gian ấy, Ô Tử Hư rảnh rỗi không việc gì làm bèn dạy Chu Ấm Tiêu hát vài câu tiểu khúc. Thiếu niên học rất nhanh, chẳng mấy chốc đã ra dáng đôi chút.

“Rảnh thì làm thôi.” Tùng Vấn Đồng ném cuốc sang một bên, vớ lấy ấm trà trên bàn tu ừng ực: “Bao thứ hay ho không dạy, đếch hiểu sao anh lại dạy thứ này.”

“Tây Sương có gì mà không hay?” Ô Tử Hư cười nói: “Lão Ngũ cũng lớn chừng tuổi này rồi. Hồi cậu bằng tuổi nhóc ấy, chẳng phải ngày nào cũng ngâm mình trong Quan Sơn Nguyệt, nghe hết bài Côn khúc nọ đến bài Côn khúc khác sao.”

“Tổ sư anh, đó là về nhà thăm người thân.” Tùng Vấn Đồng tung cước đạp anh một phát rồi hắt nốt phần nước trà lên mặt, lắc mạnh đầu cho tình, sau đó nhìn sang Chu Ấm Tiêu, “Cậu học đoạn nào?”

Chu Ấm Tiêu đáp: “Trường Đình Tiễn Biệt.”

“Tiễn Biệt?” Tùng Vấn Đồng nhíu mày: “Sao không hát Gặp Gỡ?”

“Vì khúc này hợp cảnh hơn.” Ô Tử Hư nói: “Vả lại, Gặp Gỡ hát qua rồi.”

Tùng Vấn Đồng im lặng không nói gì, hắn ngồi xuống, hất cằm ra hiệu với Chu Ấm Tiêu.

Thiếu niên hắng giọng, tiếng hát dìu dặt vang vọng khắp sân.

Trời xanh mây biếc hoa vàng, gió Tây thổi xiết, nẻo Nam nhạn về.

Rừng phong ai nhuộm đỏ tươi, ấy là lệ khóc những người biệt ly. (2)

Tùng Vấn Đồng và Ô Tử Hư cùng trầm mặc, cả hai đều hiểu, hôm nay đã là ngày thứ bốn mươi chín rồi.

Thế nhưng vẫn không có ai đến thăm núi Côn Luân.

Hoàng hôn sắp ngả, bóng chiều dần tắt, cuối cùng Ô Tử Hư lên tiếng: “Nếu hắn không đến, cậu tính làm gì?”

“Chả tính gì cả.” Tùng Vấn Đồng đáp: “Có thù báo thù, có oán báo oán, dọn sạch cái mớ hỗn độn này rồi đào mấy cái huyệt ở chùa Bạch Thủy, chôn hết anh em xuống đó.”

“Cũng được đấy, bên cạnh dựng thêm cái lều cỏ để chúng ta còn có thể bầu bạn với họ.” Ô Tử Hư gật đầu, “Có điều, cậu mà chôn lão Tứ chung với Linh Xu Tử, chỉ sợ hai kẻ oan gia này chết rồi cũng không yên ắng được một ngày.”

Tùng Vấn Đồng hừ một tiếng: “Tôi thì chẳng thấy vậy.”

“Muộn nhất là đến ngày mai, nếu vẫn không có tin tức gì của Linh Xu Tử, tôi sẽ về Phong Đô.” Ô Tử Hư nói, “Những ngày qua đã chuẩn bị xong xuôi mọi thứ cần thiết, giờ cũng đến lúc phải tính sổ rồi.”

Nói đoạn, anh nhìn sang Tùng Vấn Đồng, “Cậu có muốn tới cầu Nại Hà ngó thử không? Nhỡ hắn chưa đi, biết đâu còn kịp nói lời từ biệt.”

“Chờ thêm chút nữa.” Tùng Vấn Đồng: “Tôi thấy họ Sài kia không dễ chết đến thế.”

Đêm xuống, có tiểu đồng áo đỏ bước vào viện, mời Tùng Vấn Đồng và Ô Tử Hư tới Quan Tinh Các một chuyến.

Quan Tinh Các là nơi ở của trưởng lão tộc Chu, Chu Bạch Chi. Hôm Tùng Vấn Đồng và Ô Tử Hư ghé thăm Thừa Tước Đài, chính Chu Bạch Chi đã sai Chu Ấm Tiêu xuống núi đón họ.

Chu Tước vốn là thần Sao, vì vậy mà tộc Chu rất tinh thông thuật chiêm tinh. Tuy không thể tính chuẩn bằng phái Thiên Toán nhưng lại hơn ở chỗ nhìn xa trông rộng về lâu về dài. Dù sao, tuổi thọ của Chu Tước được tính bằng thiên niên kỷ, thậm chí có thể đoán định tương lai cực kỳ xa xôi.

Sau khi lên núi hôm đó, việc đầu tiên Ô Tử Hư làm chính là đến bái kiến Chu Bạch Chi và giao cho ông một vật.

Đó là chuỗi hạt máu của Ô Nghiệt.

Thoạt đầu, Chu Bạch Chi không chịu nhận, di cốt của Thái Tuế là một vật cực kỳ quý giá, thậm chí có thể áp chế Phong Đô. Huống chi với tình cảnh hiện tại của Ô Tử Hư, rõ ràng anh cần vật này hơn ai hết.

“Ngài và bà lớn quen biết đã ngàn năm, hiểu tính người còn hơn vãn bối.” Ô Tử Hư cúi đầu thật sâu, “Phong Đô không phải là nơi bà ấy trở về.”

Ông lão áo trắng đưa lưng về phía anh, trên đỉnh đầu là dải ngân hà mênh mang.

Tùng Vấn Đồng và Ô Tử Hư leo lên Quan Tinh Các. Trên đỉnh các có đặt một quả Hồn Thiên Nghi khổng lồ, nước nhỏ giọt vào đồng hồ nước, dẫn động bánh răng, khiến toàn bộ quả cầu chậm rãi đóng mở, xoay vòng theo nhịp.

Chu Bạch Chi cầm que tính trong tay, bày la liệt khắp sàn.

Mí mắt Ô Tử Hư khẽ giật. Điều có thể khiến Chu Bạch Chi hao tâm tổn trí tính toán thế này chắc hẳn là đã xảy ra biến lớn rồi.

Nghe tiếng bước chân họ đến, Chu Bạch Chi không ngẩng đầu lên mà đi thẳng vào vấn đề: “Phía vực Tây Bắc, xuất hiện sát tinh.”

Tùng Vấn Đồng và Ô Tử Hư đồng loạt sửng sốt.

Năm chiến loạn, sát tinh hiện thế cũng không có gì lạ, song sắc mặt của Chu Bạch Chi lại vô cùng nặng nề.

Nghiên cứu ngũ hành cũng là học thuật gia truyền của Âm Dương gia, nhưng Âm Dương gia sống lâu ở Phong Đô, không thấy mặt trời, nên Ô Tử Hư không rành lắm về thiên văn tinh tượng. Anh quan sát quỹ đạo chuyển động của cỗ máy bằng đồng rồi ngẩng đầu nhìn bầu trời đêm, bỗng phát hiện một ngôi sao màu xanh.

Anh lập tức hiểu ý của Chu Bạch Chi. Phía vực Tây Bắc, xuất hiện sát tinh —— đó chính là một ngôi sát tinh cực kỳ hiếm thấy, tuy hiếm nhưng bất cứ bộ sách cổ về tinh tượng nào trong Thất Gia Chư Tử đều có ghi chép rất dài về nó.

Tùng Vấn Đồng thì hoàn toàn mù tịt, “Ý là sao?”

Ô Tử Hư trấn tĩnh lại, đáp: “Trời dựng bốn phương, vận hành theo chòm Bắc Đẩu. Mỗi tháng dời một cung rồi lại quay về chỗ cũ. Riêng vực Tây Bắc có sao sát tinh, quanh năm bất động.”

Anh biết Tùng Vấn Đồng nghe không hiểu, bèn giải thích, “Toàn bộ sao trên trời đều có quy luật vận hành. Ngay cả sao chiếu mệnh của các Chư Tử cũng phải mọc về đêm, lặn lúc ngày. Nhưng có một ngôi sao sát tinh thì không như vậy, dù cậu có nhìn suốt đêm, nó cũng không hề dịch chuyển chút nào.”

“Đây là một ngôi sao chết, vì sát khí quá nặng nên bất kể thời gian đổi thay thế nào, nó vẫn sẽ đứng yên tại một vị trí, mãi cho đến khi sao tàn và rơi xuống.”

“Rồi sao?” Tùng Vấn Đồng nghe chỗ hiểu chỗ không, “Đây là sao chiếu mệnh của ai?”

Ô Tử Hư nuốt nước bọt, một lúc sau mới nói: “Của La Sát Tử.”

Đao Thỉ Hồng rơi xuống đất.

“Năm đại họa.” Chu Bạch Chi thở dài, “Vị Chư Tử thứ bảy, rốt cuộc cũng đã xuất hiện rồi.”

“Vô Thường Tử.” Ông đặt que tính xuống, nói: “Hôm nay ta mời cậu và Mặc Tử tới đây, không chỉ là vì việc La Sát Tử hiện thế —— Cậu xem sao chiếu mệnh của các Chư Tử đi, có thấy gì kỳ lạ không?”

“… La Sát Tử hiện thế, tinh tượng hỗn loạn.” Ô Tử Hư ngẫm nghĩ giây lát, lắc đầu, “Vãn bối học thức nông cạn, không dám nói bừa.”

“Vậy thì cậu nhìn ra rồi đấy.” Chu Bạch Chi nói: “Sao chiếu mệnh của các Chư Tử hiện nay quả thật rất kỳ quặc, nhưng đây chính là sự thật.”

Ô Tử Hư giật mình, hít mạnh một hơi.

Tùng Vấn Đồng nghe mà sốt ruột: “Tóm lại mấy người đang úp mở cái mẹ gì thế?”

Ô Tử Hư ngẩng đầu nhìn bầu trời đêm lần nữa, đưa ra kết luận khiến chính anh đứng không vững. Lúc lâu sau anh mới nói: “Sao Linh Xu rơi xuống, nghĩa là Sài Thúc Tân đã chết.”

“Nhưng đó chưa phải chuyện kỳ lạ nhất.”

“Còn một ngôi sao nữa sắp rơi, chính là sao Trường Sinh.”

“Sao Trường Sinh?” Tùng Vấn Đồng lặp lại: “Trường Sinh Tử?”

“Phải.” Ô Tử Hư gật đầu, lộ vẻ khó tin, “Chưởng môn Bồng Lai, Trường Sinh Tử Họa Bất Thành, thọ số sắp tận.”

Sở dĩ Trường Sinh Tử được gọi như thế phần lớn là vì tuổi thọ của tu sĩ rất dài, gần như đạt tới sự bất tử.

Ấy vậy mà Họa Bất Thành kế nhiệm chức chưởng môn Bồng Lai chưa đầy trăm năm, lại sắp chết rồi ư?

Ác giả ác báo. Đây là phản ứng đầu tiên của Tùng Vấn Đồng. Nói không chừng oan hồn của Mộc Cát Sinh đã tới tìm gã đòi mạng đấy.

Thực lực của Trường Sinh Tử sâu không lường được, dù Tùng Vấn Đồng có đối đầu cũng khó nắm chắc phần thắng, không tưởng tượng nổi còn ai có thể lấy mạng hắn.

Khoan đã. Tùng Vấn Đồng chợt nhận ra điều gì đó.

Hắn và Ô Tử Hư chạm mắt, hiển nhiên cả hai cùng nghĩ tới một khả năng giống nhau.

Chưa kịp để họ lên tiếng, Chu Bạch Chi nói ngay: “Lúc chạng vạng ta nhận được thư của hạc trắng, đến từ Bồng Lai.”

“La Sát Tử phá cửa núi xông vào, khiến đệ tử Bồng Lai thương vong nặng nề, phóng hỏa đốt núi, máu chảy thành sông.”

“Trường Sinh Tử cầm kiếm nghênh chiến, hai người đánh nhau một ngày một đêm, hiện giờ Bồng Lai nguy cấp, gửi thư cầu viện.”

Chu Bạch Chi nhìn hai người, “Cứu hay không tùy hai vị quyết định.”

Tùng Vấn Đồng lập tức nói: “Cứu.”

“Cậu muốn cứu?” Ô Tử Hư nhìn hắn, “Là La Sát Tử đó!”

“Ai thèm quan tâm Họa Bất Thành sống chết ra sao.” Tùng Vấn Đồng trợn trắng mắt, “Nhưng xác lão Tứ vẫn còn đặt trên đàn tế trời, Thiên Toán Tử chết bốn mươi chín ngày mới được hỏa táng, chúng ta phải mau chóng lên đường.”

“Ừ nhỉ.” Ô Tử Hư hiểu ra, “Vậy đi thôi.”

Chu Bạch Chi chắn trước mặt hai người, “Hai vị từ từ đã, lão phu vẫn chưa nói xong.”

“Còn chưa xong hả?” Tùng Vấn Đồng mất kiên nhẫn, lúc này từng giây từng phút đều quý giá, hắn đang vội đi cướp xác, “Rốt cuộc ông muốn nói gì nữa?”

“Mặc Tử xin bớt nóng.” Chu Bạch Chi nói: “Chuyện này hệ trọng, ta thực sự không biết mở lời từ đâu, lại còn quá mức khó tin.”

“Trong thư hạc trắng gửi tới có viết rõ thân phận của La Sát Tử đời này.”

Tùng Vấn Đồng: “Ai?”

Chu Bạch Chi trầm mặc một thoáng rồi nói: “Chính là Linh Xu Tử vừa mới qua đời, Sài Thúc Tân.”

Chẳng biết bao lâu trôi qua, đêm đã về khuya, Chu Bạch Chi rời khỏi đỉnh các, chỉ còn lại hai người Ô Tử Hư và Tùng Vấn Đồng.

Ô Tử Hư hút xong một điếu thuốc vẫn có cảm giác hư ảo như đang ở trong mơ, “… Tôi thiệt không ngờ tới luôn.”

“Tôi thừa biết họ Sài kia không chết dễ như thế.” Tùng Vấn Đồng bực bội vò đầu, “Nhưng tôi đếch ngờ hắn lại trở thành La Sát Tử, đến cùng thì hắn đã làm gì vậy?”

“Khó nói lắm.” Ô Tử Hư lắc đầu, “Cậu định tới Bồng Lai nữa không?”

“Không tới nữa.” Tùng Vấn Đồng ném đao Thỉ Hồng sang một bên, “Có hắn ở đó, lão Tứ sẽ không gặp chuyện gì.”

“Biết là thế.” Ô Tử Hư thở dài, “Nhưng việc này chắc chắn không kết thúc êm đẹp đâu, cậu phải nghĩ kỹ về sau nên làm thế nào.”

“Chẳng thế nào hết.” Tùng Vấn Đồng hừ một tiếng, “Ông đây cứ ở mẹ Côn Luân đấy, ai muốn hỏi tội Sài Thúc Tân thì đi mà tìm hắn, đừng có lôi tôi vào.”

Xưa giờ Tùng Vấn Đồng vốn yêu ghét rõ ràng, đã thiên vị là thiên vị một cách trắng trợn. Nên hành động lần này rõ rành rành là hắn đang bênh Sài Thúc Tân.

Dù La Sát Tử luôn là mối kiêng kỵ của Thất Gia Chư Tử bao lâu nay, nhưng Ô Tử Hư hiểu, Tùng Vấn Đồng vẫn luôn coi Sài Thúc Tân là anh em.

… Hơn nữa anh cũng đoán sơ được lý do Sài Thúc Tân muốn giết Họa Bất Thành.

Nếu ngay cả Họa Bất Thành cũng không phải đối thủ của La Sát Tử, thì trong toàn bộ Thất Gia Chư Tử, kẻ duy nhất đủ sức đối đầu chỉ còn lại một mình Mặc Tử.

Vậy mà Tùng Vấn Đồng lại trực tiếp làm rùa rụt cổ. Thừa Tước Đài có cấm chế, chỉ cần hắn không rời khỏi Côn Luân, chẳng ai có thể ép hắn làm gì.

Tuy nhiên, bất luận thế nào cũng phải cho Thất Gia Chư Tử một lời giải thích về việc này. Nghĩ tới đây, Ô Tử Hư không khỏi đau đầu.

Như thể lại trở về những năm tháng xưa kia ở thư viện Ngân Hạnh, có kẻ quậy phá làm loạn, có kẻ phủi tay mặc kệ, rồi mọi rắc rối đều đổ cả lên đầu anh.

… Chỉ là, kẻ gây rắc rối nay đã đổi thành một người khác.

Ấn tượng sâu sắc đầu tiên của Ô Tử Hư về Sài Thúc Tân là sau vụ đại náo Phong Đô năm ấy.

Hồi đó Tùng Vấn Đồng và Mộc Cát Sinh vì muốn giúp anh mà mở sòng bạc ở chợ quỷ, gây náo loạn Phong Đô, cuối cùng bị thầy phạt vào Âm Luật Ty chịu trượng hình.

Trượng hình là hình phạt nặng, tuy đã lo lót trước nhưng hai người vẫn bị đánh đến mức đi vào bằng chân, ra ngoài bằng cáng, máu me be bét, thảm không nỡ nhìn. Ô Tử Hư vừa thấy đã biết tình hình chẳng ổn, vội vàng sắp xếp ổn thỏa cho hai người rồi hớt hải đi mời thầy thuốc.

Ai nấy đều biết thầy thuốc giỏi nhất thành đều ở phủ Sài, thế nhưng hôm đó Sài Thúc Tân không có ở phủ, trong khi thương thế của hai người kia quá nặng. Hình phạt của Âm Luật Ty vốn chẳng thứ có thể xem thường. Ban đầu thầy thuốc chỉ chữa trị như vết thương thông thường, dần dà lại khiến vết thương càng thêm trầm trọng, thậm chí còn suýt nguy hiểm đến tính mạng.

Cuối cùng, Ô Tử Hư đành phải châm tẩu triệu hồi quỷ sai, gấp rút mời Sài Thúc Tân từ nơi khác về ngay trong đêm.

Lúc ấy, bọn họ vẫn chưa mấy thân quen, chỉ thỉnh thoảng chạm mặt vài lần ở thư viện, cả hai đều là Chư Tử kế vị từ khi còn nhỏ. Khác với vẻ trưởng thành lõi đời của Ô Tử Hư, Sài Thúc Tân tuy vẫn thiếu niên nhưng hành xử cẩn trọng điềm tĩnh, mang theo chút nét thanh cao kiêu ngạo của người hành y, có cái vẻ “cứng quá thì dễ gãy”.

Đêm đó, Sài Thúc Tân vừa trở về đã lập tức bắt mạch cho hai người, rồi chẳng nói chẳng rằng vác một cái xẻng sắt đi thẳng ra ngoài.

Ô Tử Hư đuổi theo, hỏi hắn định làm gì, đối phương không trả lời, chỉ đi một mạch đến ngoại thành.

Ngoại thành có một bãi tha ma, đối phương nhìn lướt qua các bia mộ, xắn tay áo lên, bắt đầu đào mộ.

Ô Tử Hư sốc điếng người. Anh nhìn Sài Thúc Tân đào lên một xác chết, rạch phần chi dưới, lấy ra một khúc xương đùi. Sau đấy lại đào xác chết thứ hai, làm y hệt. Rồi tiếp đến xác chết thứ ba, thứ tư.

Theo tục lệ nhân gian, đào mộ là một hành động vô cùng bất kính. Tuy Âm Dương gia không kiêng kỵ điều này, nhưng với tác phong nghiêm cẩn, giữ lễ trước giờ của Sài Thúc Tân thì thật khó mà tưởng tượng hắn lại làm chuyện như vậy.

Hơn nữa, động tác lại thuần thục đến lạ.

Sau khi lột da rút xương xong, cả người Sài Thúc Tân lấm lem bùn đất, hắn phủi phủi tay, chẳng chút kiêng dè, thản nhiên nói: “Tôi đang gấp, việc chôn lại xác giao cho anh.”

Ô Tử Hư mất một lúc lâu mới thốt lên hỏi, “Có thể nói cho tôi biết cậu đang làm gì không?”

“Thương thế của bọn họ quá nặng, cần phải thay xương mới, trong kho thuốc không có xương ghép nào phù hợp, chỉ đành đi tìm ngay.” Sài Thúc Tân ôm lấy khúc xương đùi, dùng tay áo lau mặt, “Lúc cấp bách thì phải linh hoạt, vết thương của bọn họ không thể chờ thêm nữa.”

Lúc này Ô Tử Hư mới để ý, trước khi ra tay hắn đã xem qua bia mộ, chọn toàn những thiếu niên có cùng độ tuổi.

Thế nhưng mãi đến mấy ngày sau, Ô Tử Hư mới hiểu được thế nào gọi là “lúc cấp bách thì phải linh hoạt” trong miệng Sài Thúc Tân.

Khi ấy, Tùng Vấn Đồng đã được thay xương, vết thương dần ổn, ở lại tĩnh dưỡng trong biệt viện phủ Sài. Lúc tới thăm, Ô Tử Hư phát hiện thầy thuốc chữa trị cho Mộc Cát Sinh đã đổi thành Sài Nhẫn Đông.

“Xương ghép mà Thúc Tân tìm được không phù hợp với cậu Mộc nên buộc phải nghĩ cách khác.” Sài Nhẫn Đông đang sắc thuốc, thở dài: “Tính nó thế, chẳng làm gì được nó.”

Sài Nhẫn Đông kể với Ô Tử Hư rằng, Sài Thúc Tân đã lấy xương đùi của mình thay cho Mộc Cát Sinh, thành ra hiện giờ cũng đang dưỡng thương.

Ô Tử Hư giật bắn mình, chạy tới xem Sài Thúc Tân thế nào, đối phương đang ngồi trên xe lăn gọt xương, bình thản nói: “Vết thương của tôi không nặng, xương ghép có thể từ từ tìm, nhưng cậu ấy không thay xương ngay thì sẽ chết.”

Ô Tử Hư thầm nghĩ, vậy cậu cũng đâu cần liều đến thế.

“Đã do tôi tiếp nhận chữa trị thì nhất định sẽ khỏi.” Lời nói mang theo sự quả quyết không thể chối cãi, “Không có bệnh gì mà Dược gia không chữa được, đây là nguyên tắc.”

Chính khoảnh khắc đó Ô Tử Hư đã thay đổi cái nhìn về thiếu niên trước mắt. Trong con người hắn có một thứ gì đó khó mà hình dung, không đơn thuần chỉ là phong thái thanh cao chính trực, mà còn là sự quyết liệt dữ dội, sẵn sàng đổ máu để đạt được mục đích, thậm chí khiến người ta thấy rợn người.

Tùng Vấn Đồng dường như đã nhìn thấu điều này sớm hơn anh. Trực giác của hắn cực kỳ nhạy bén, thường chỉ thoáng qua đã nhận ra bản chất của một người ẩn sau vẻ bề ngoài, “Đừng chọc vào Sài Thúc Tân.”

Bề ngoài là quân tử, bên trong là kẻ điên.

Ô Tử Hư bình tỉnh từ dòng hồi ức, thở dài một hơi

Phía xa xa sắc trời u ám, một ngôi sao rơi xuống khỏi bầu trời đêm.

Trường Sinh Tử mất.

________________________________

Chú thích:

(1) Dẫu gần tựa cách ngàn dâu, xin cùng cạn chén ly sầu tiễn đưa.

Chưa uống lòng đã say sưa, máu tuôn lệ mắt, lòng mưa tro tàn.

– trích từ Tây Sương Ký của Vương Thực Phủ

(2) Trời xanh mây biếc hoa vàng, gió Tây thổi xiết, nẻo Nam nhạn về.

Rừng phong ai nhuộm đỏ tươi, ấy là lệ khóc những người biệt ly.

– trích từ Tây Sương Ký của Vương Thực Phủ