Hồng Bạch Song Hỉ - Chương 85
Chương 85: PN1
- Ayeayecaptain -
[Vạn Niên Thanh]
Năm 1919, đêm Giao thừa.
Bắc Bình, Sài phủ.
“Mẹ – “
Sài Nhẫn Đông ôm một bọc gấm to chạy tọt vào bếp. Dạo gần đây cô nhóc đang trổ mã, dáng người đã cao bằng cành mai trong sân. Nếu mang thêm giày vào thì gần như cao hơn thiếu niên cùng tuổi cả một cái đầu. Nàng líu ríu như chim yến: “Mẹ mẹ mẹ mẹ ơi! Mẹ phải cứu con!”
“Thời đại nào rồi mà còn gọi mẹ là nương nương* thế hả.” Một người phụ nữ quàng khăn lông cáo đen ngồi trên chiếc ghế bát tiên, thong thả nói: “Nhà ta làm gì có hoàng thượng.”
(*)Chị Sài gọi mẹ là 娘: Nương.
Sài Nhẫn Đông bị khói bếp hun đen cả mặt cũng chẳng buồn lau: “Thế nào lại dám để mẹ làm nương nương chứ, không thì hậu cung còn đường sống sao?”
Trên bếp đang nấu mấy nồi lớn. Người phụ nữ vừa trông lửa vừa đọc một quyển sách tiếng Tây, thấy con gái như người chạy nạn xông vào, bà chỉ khẽ liếc mắt: “Thêm vài tuổi nữa là đến lễ thành niên rồi, đi một chuyến Thượng Hải về lại càng chẳng ra dáng.”
“Lời này của mẹ giờ không còn linh nghiệm nữa đâu. Lúc con ở Thượng Hải có nghe người ta kể, năm đó vì một đơn thuốc mà mẹ cầm dao mổ đuổi cha chạy ba vòng trên đường Nam Kinh…” Sài Nhẫn Đông đặt túi gấm vào một giỏ rau lớn, đang định tháo chạy thì nhìn thấy đồ trên bếp: “Ồ, lẩu nhất phẩm! Mẹ ơi con ăn một miếng được không?”
“Đồ cúng Tết, khuya mới được ăn.” Người phụ nữ lật một trang sách: “Nồi bên cạnh đang đun hạt dẻ.”
Sài Nhẫn Đông mừng rỡ, vén nắp nồi định thò tay bốc, chợt nghe ngoài bếp vang lên giọng đàn ông: “Đông nhi! Con lại lấy em trai ra thử thuốc phải không?”
Giọng nói không lớn, thậm chí khá ôn hòa, nhưng nền giọng lại mang theo sự uy nghiêm. Sài Nhẫn Đông rùng mình, vội cởi giày leo qua cửa sổ: “Mẹ ơi con đi đây! Chồng mẹ tới rồi, giúp con cản ông ấy một lát nhé.”
“Sài tiểu thư đi thong thả.” Người phụ nữ thản nhiên nói: “Hóa đơn bên Bát Đại Hồ Đồng vừa gửi đến. Hôm nay Tết nhất, tiết kiệm tiền cho cha mẹ cô chút đi.”
Tiếng Sài Nhẫn Đông đã xa dần: “Gió to quá con nghe không rõ!”
Tấm rèm cửa lại bị vén lên, một người đàn ông bước vào. Gương mặt ông không hẳn là quá ưa nhìn, hai bên thái dương đã điểm sương, nhưng nhờ tuổi tác mà toát lên vẻ điềm đạm trầm ổn. Ông đặt lò sưởi nhỏ vào tay người phụ nữ: “Trời lạnh, khói bếp hại thân, phu nhân việc gì phải đích thân xuống bếp.”
“Con gái anh chạy rồi.”
Người phụ nữ mải đọc sách không buồn ngẩng đầu, chỉ tay về phía giỏ rau bên cạnh bếp: “Con trai anh thì đang ngất trong đó.”
“Không ra thể thống gì.”
Giọng người đàn ông nghiêm khắc, nhưng vẻ mặt lại chẳng có ý giận dữ: “Thúc Tân mới hai tuổi, nào có chuyện đem đứa bé nhỏ như vậy ra châm kim thử thuốc. Xem ra những năm nay nuông chiều con bé quá rồi, đến nửa phần cẩn trọng cũng không học được…”
“Tôi lại thấy có mỗi anh nuông chiều đấy.”
Người phụ nữ lật thêm một trang sách: “Nhẫn Đông còn nửa năm nữa mới tròn mười sáu tuổi, vậy mà anh đã vội vàng đưa con bé đến Thượng Hải nhập dược liệu. Những chuyện ngông cuồng năm xưa bị nó nghe sạch bách rồi, giờ anh còn muốn bày giá làm cha thì khó lắm.”
Người đàn ông cúi người bắt mạch cho cậu con trai út, xác định không có gì đáng ngại mới quay sang mở nắp nồi. Động tác của hai cha con hệt như đúc từ một khuôn: “Anh thấy nồi lẩu nhất phẩm này phu nhân nấu rất khá.”
“Tôi thấy khả năng đánh trống lảng của Sài tiên sinh đây cũng chẳng kém cạnh gì.”
Người phụ nữ đặt cuốn sách xuống, chống cằm suy ngẫm một lát: “Tôi đang tính đợi khi thời tiết ấm lên chút nữa sẽ giao lại công thức món này cho Nhẫn Đông. Muốn uốn nắn con bé ấy thành dáng dấp khuê tú e là khó, nhưng những thứ bày ra cho có mặt mũi như nữ công, bếp núc thì vẫn nên học cách vờ vịt cho ra dáng một chút.”
Sài tiên sinh nghe xong trên mặt thoáng ý cười: “Phu nhân xưa nay vốn chẳng ưa làm bộ làm tịch, ấy vậy mà lại chịu hy sinh vì con bé đó sao.”
“Sao lại bảo rằng không ưa làm bộ làm tịch chứ.” Người phụ nữ ngẩng lên nhìn chồng, một cái ngước đầu đẹp đến nao lòng: “Đó chẳng qua là thủ đoạn thôi, tâm mình ngay thẳng là được.”
Hai vợ chồng họ lúc này kẻ đứng người ngồi, nếu xét về tướng mạo thì trông không mấy xứng đôi. Sài tiên sinh đã quá tuổi bốn mươi, trong khi Sài phu nhân trông như chỉ mới ngoài đôi mươi, dung mạo cực kỳ diễm lệ. Bà ăn vận theo lối của phụ nữ kinh kỳ, là kiểu dáng cũ của tiền triều, nhưng đôi môi lại được tô điểm tỉ mỉ. Không phải người Thượng Hải thì không nhận ra được, son môi bà dùng chính là loại son Max Factor chỉ có thể mua được tại cửa hàng bách hóa Vĩnh An.
Nụ cười trên gương mặt Sài tiên sinh càng sâu hơn, phảng phất nét thiếu niên. Lần này ông đưa con gái lớn đến Thượng Hải, một phần là vì muốn thăm lại chốn xưa. Năm đó ông một thân một mình đến Thượng Hải khám bệnh, bệnh nhân là một bà cụ sống trong tô giới Pháp, mắc bệnh mãn tính kéo dài nhiều năm. Vì con trai bà cưới một người vợ Trung Hoa nên sinh lòng kính trọng Trung y hơn. Trong các buổi tiệc xã giao tại dinh thự Pháp có một vị ngoại giao họ Cố, vốn có chút giao tình cũ với nhà họ Sài, liền chuẩn bị thiếp mời gửi đến Bắc Bình, lời lẽ tha thiết mong gia chủ nhà họ Sài đi Thượng Hải một chuyến.
Cùng lúc đó, gửi đến Sài phủ còn có bức thư đòi nợ của Thiên Toán Tử, đính kèm theo thư là một cành hoa đào.
Đến khi đặt chân tới Thượng Hải, ông mới hiểu rốt cuộc khoản tiền quẻ giá trên trời kia của Thiên Toán Tử là vì cớ gì. Dưới gối bà lão người Pháp có một cô cháu gái, vừa mới du học trở về nước. Sài tiên sinh được người hầu dẫn vào dinh thự, vừa bước tới sân đã thấy một cô gái đang ngồi xổm dưới đất, chăm chú giải phẫu một con chó.
“Tiểu thư, tiểu thư ơi, con chó này hôm qua phu nhân mới sai người chôn cất tử tế, sao cô lại đào lên rồi?” Người hầu hoảng hốt, vội cúi đầu hướng về phía ông: “Tiên sinh chớ trách, con chó này bị xe cán chết, tiểu thư nhà tôi lúc ở nước ngoài học Tây y…”
“Mẹ theo cha đi Paris rồi, tháng sau mới về, anh không nói thì sao bà ấy biết được.” Cô gái đứng dậy, nàng đang mặc một bộ đồ cưỡi ngựa gọn gàng, dùng chất giọng Thượng Hải có hơi vụng về hỏi ông: “Anh chính là vị đại phu đến khám bệnh cho nội tôi à?”
Người hầu vội tiếp lời: “Vị này là Sài tiên sinh.”
“Trông anh cũng bảnh bao đấy chứ.” Cô nhìn chằm chằm vào ông, ra chiều suy tư rồi gật đầu: “Mẹ nói không sai, thanh niên trong nước vẫn còn nhiều người ra dáng lắm.”
Dẫu là một câu nói mang ý x**n t*nh, thốt ra lại chẳng có vẻ khuê các. Dung sắc diễm lệ đến cực điểm của nàng tựa như một thứ vũ khí, khiến kẻ đối diện không dám lơ là. Sài tiên sinh nhìn nàng, vén tay áo, lịch sự nghiêng người chào: “Ra mắt tiểu thư.”
Sài tiên sinh tuy là Linh Xu Tử, nhưng khi lời chào ngắn gọn ấy thốt ra, âm cuối vẫn không kiềm được hơi run rẩy, như một câu thoại trong tuồng tích –
Ngàn dặm nhân duyên, quả là một cuộc tương phùng đẹp đẽ.
Thiên Toán Tử nhiều năm không tính quẻ đào hoa, quả thực vô cùng xứng với cái giá đó.
Nhờ có quẻ bói của Thiên Toán Tử bảo chứng, hôn sự của hai người diễn ra vô cùng thuận lợi, ngay cả những bậc trưởng bối đức cao vọng trọng nhất của nhà họ Sài cũng không phản đối lời nào. Sau khi kết hôn, cô tiểu thư ấy chuyển đến Bắc Bình, ít nhiều cũng học được cách quán xuyến việc nhà.
Ngẫm lại chuyện cũ, nụ cười hiện rõ trên gương mặt Sài tiên sinh: “Năm đó anh nghe nhạc mẫu nói, phu nhân mới vào bếp tháng đầu đã làm bệ lò nổ ba lần, chẳng lẽ không sợ Đông nhi nối nghiệp mẹ sao?”
“Mặc kệ nó, cần học thì nhất định phải học. Năm xưa mẹ véo tai tôi, nhất quyết phải truyền lại công thức này, con bé kia đừng mong thoát.”
Sài phu nhân nói: “Hơn nữa tính cách Nhẫn Đông giống anh, nước lặng chảy sâu, chỉ là tuổi trẻ còn chút bốc đồng thôi. Gia nghiệp này của anh nếu không phải người vững vàng thì không gánh vác nổi, sau này để nó quản lý là tốt nhất.”
“Sao tự nhiên lại nghĩ đến chuyện xa xôi thế?” Sài tiên sinh mỉm cười: “Sau này đợi con cái lớn khôn, xem đứa nào hợp rồi hẵng tính cũng chưa muộn, còn phải hỏi ý chúng nữa.”
“Ông bạn xem mệnh của anh chẳng phải từng bảo thằng Thúc Tân này tính nết giống tôi sao?” Sài phu nhân lại rất coi trọng nhân duyên do Thiên Toán Tử se mối năm xưa, khi nhắc đến người vẫn mang vài phần kính trọng: “Giống tôi thì hỏng rồi, sau này thể nào cũng phát điên, nói không chừng còn đốt trụi cái phủ này của anh.”
“Muốn đốt thì cứ đốt.” Sài tiên sinh chẳng mấy bận tâm: “hồi trẻ anh vẫn luôn muốn đập nát mấy bức tường này để dọn ra ngoài. Các bậc trưởng bối năm xưa vì đề phòng thiếu chủ nhà mình phải ngủ ngoài đường, còn đặc biệt mua một căn phủ ở phương nam.”
“Anh đang nói đến dược trạch ở phương nam à?”
“Phải, bỏ không cũng lâu rồi, chỉ dùng để trồng Bát Trọng Hàn Hồng.” Sài tiên sinh kéo lại tấm áo lông cáo cho vợ: “Đợi sang năm việc nhà thong thả hơn, chúng ta có thể xuống miền nam đón Tết. Nghe nói hoa mai trong sân nở rộ đẹp lắm.”
“Quê gốc của mẹ tôi ở Giang Nam, hồi nhỏ tôi thường nghe bà kể về Tần Hoài Bát Diễm*.” Người phụ nữ trầm ngâm: “Nếu mà đưa Nhẫn Đông đi cùng, e là tiền công khám bệnh cả năm của anh lại đổ sông đổ biển hết thôi.”
Cả chốn kinh thành đều biết, Sài đại tiểu thư là nữ khách quen số một của Bát Đại Hồ Đồng*.
(*)Tần Hoài Bát Diễm: Tám giai nhân lừng danh bên sông Tần Hoài | Bát Đại Hồ Đồng: Khu kỹ viện ở Bắc Bình.
Sài tiên sinh cười bất lực: “Nhiều bệnh đàn ông khám không tiện, con bé đến đó là để xem bệnh cho các kỹ nữ thôi.”
“Tôi biết, mấy hôm trước nó còn trộm Aspirin từ trong rương của tôi mà.”
Sài phu nhân thản nhiên nói: “Nó cứ đi theo mấy cô kỹ nữ đó học cách chải chuốt trang điểm, rồi cứ phải cắm lên đầu cả đống trâm cài, tiền tiêu không ít, cũng chẳng thấy dắt về được nửa cô dâu nửa chàng rể nào. Hồi tôi ở Paris đâu có như nó.”
Tay Sài tiên sinh khựng lại: “Vốn không thường nghe phu nhân kể chuyện xưa.”
“Phu quân…”
Sài phu nhân đóng sách lại: “Lẩu nhất phẩm chắc sắp xong rồi, anh nếm giúp tôi xem mùi vị thế nào.”
Sài tiên sinh cầm đũa, gắp một miếng nấm hương: “Năm đó ở dinh thự anh có thấy một bức ảnh, nghe nhạc phụ đại nhân nói đó là khi phu nhân diễn kịch tình yêu cùng bạn ở câu lạc bộ kịch…”
Lời còn chưa trọn, một tiếng “cạch” vang lên, đôi đũa rơi xuống đất. Sài tiên sinh lịm đi, Sài phu nhân đứng dậy dìu ông chồng đang ngất ngồi tựa vào ghế, xong lại quay sang nói với cậu con trai út đang nằm gọn trong giỏ rau: “Nhóc con xem mà học hỏi đi nhé, đàn ông thì bớt ghen tuông thôi, không thì chẳng có kết cục tốt đâu.”
Kế đó, bà lại rơi vào trầm tư: “Con bé Nhẫn Đông rắc thuốc mê vào nồi từ lúc nào nhỉ?”
…
Phong Đô.
“Tự bốc Thanh Nhất Sắc!” Mặc Tử đẩy bài, hào khí ngút trời vỗ bàn: “Uống hết cho bà!”
Đây là sạp mạt chược trong chợ ma. Bốn người Ô Nghiệt, Chu Bạch Chi, Vô Thường Tử và Mặc Tử đang ngồi cùng bàn. Ở vị trí chủ tọa là một người phụ nữ lưng đeo hồng đao, miệng ngậm một cọng thi thảo, mày mắt phóng khoáng như nét mực tàu đầy phong lưu tự tại: “Tôi đặc biệt mang đủ loại rượu từ Quan Sơn Nguyệt tới, đều là rượu ngon cả, hôm nay không uống đến mức trời đất quay cuồng thì đừng hòng bước khỏi bàn bài này!”
Nàng quả thực mang đến rất nhiều rượu. Bốn người đang ngồi ngay trên những chum rượu xếp thành núi nhỏ, mặt bằng cao hơn hẳn so với những bàn mạt chược khác xung quanh.
“Uống thì uống, sợ ngươi à?!” Ô Nghiệt thua đến mức mặt mày tối sầm, lửa giận bốc lên, liền vớ lấy một vò rượu bên cạnh, đập tan lớp niêm phong bằng bùn rồi ngửa cổ uống cạn. Dòng rượu thơm nức chảy từ khóe miệng xuống, làm ướt lớp sơn dầu trên cổ, bị nàng tùy ý lau đi. Vẻ tà mị yêu dị ấy hòa trong không khí vui tết tháng giêng, lại toát ra vài phần đỏ rực cát tường.
Vò rượu Ô Nghiệt vừa giật lấy vốn đặt ngay dưới chỗ ngồi của Chu Bạch Chi, khiến lão Chu Tước ngã chổng vó, hai chân giơ lên trời. Vô Thường Tử vội vàng đỡ lão dậy, hạ giọng nói: “Chu trưởng lão, cọng thi thảo trong miệng Mặc Tử… Chẳng phải là thứ Thiên Toán Tử dùng để bói quẻ sao?”
Chu Bạch Chi kỹ thuật đánh bài không bằng ai, lại chẳng làm gì được Ô Nghiệt, hậm hực nói: “Cỏ Dao Trì dưới đài Côn Lôn, chắc chắn là thứ mà thằng nhóc Mạc Khuynh Bôi năm đó mang từ Bồng Lai ra. Ước chừng đã bị con bé Mặc Tử này thắng sạch sành sanh, đến mức vốn liếng dưới đáy hòm cũng phải đem ra thế chấp rồi.”
Đời trước Mặc Tử vốn là Thần Tước, thực sự là một tay cờ bạc chính hiệu, một ván bài suýt thắng sạch nửa giang sơn. Cứ ngỡ đời này sẽ khá khẩm hơn, ai dè lại càng quá quắt, vừa là con bạc vừa là con sâu rượu, thứ gì cũng tinh thông. Cứ mỗi dịp lễ tết, nàng lại đi thắng sạch từ nhà này sang nhà khác, khiến cho đến cả Trường Sinh Tử cũng phải bắt đầu đóng cửa trốn khách.
(*)Thần Tước: Thần mạt chược.
Cũng chỉ có Linh Xu Tử là quỷ tinh ranh, cưới được một bà vợ Thượng Hải. Phụ nữ đất Thượng Hải vốn tinh thông bài cửu, vị ấy mới thật sự là đối thủ ngang tài ngang sức với Mặc Tử.
“Lão bất tử và tiểu đoản mệnh kia đang lầm bầm cái gì đấy?” Ô Nghiệt đập vò rượu cái xoảng, ném thêm vò khác xuống trước mặt hai người: “Mau uống cho gia!”
Hai người giận mà không dám nói, khổ mà không dám than, đành im lặng uống rượu. Mặc Tử cũng chẳng khoác lác, nàng xưa nay hào sảng, lần này mang tới toàn rượu ngon. Với kiểu đánh bài thua một ván uống một vò thế này, cũng may là ở Phong Đô, chứ ở dương gian thì chắc chắn đã xảy ra án mạng.
Họ đã đánh qua rất nhiều ván, Chu Bạch Chi say đến mức sắp hiện nguyên hình, Vô Thường Tử mấy lần lăn xuống dưới gầm bàn rồi lại bị Mặc Tử túm ra.
“…Thật sự không xong rồi.” Chu Bạch Chi cố sức nhấc mắt, đôi mắt trợn ngược như chuông đồng, hỏi Vô Thường Tử: “Ngươi bảo cứu binh khi nào thì tới?”
“Vãn bối đã dặn dò Tử Hư từ sớm, khuyển tử chắc là sắp tới ngay, tới ngay…” Vô Thường Tử say khướt, lại chui tọt xuống gầm bàn lần nữa.
Mỗi Ô Nghiệt càng đánh càng hăng, một vò rượu nữa trút xuống, nàng lau miệng nói: “Tiếp!”
Mặc Tử vỗ bàn một cái: “Tiếp!”
Ngay sau đó, một giọng cười dịu dàng vang lên: “Tiếp cái gì vậy? Phu nhân nói cho em nghe với?”
Mắt Mặc Tử sáng rỡ, quẳng bài xoay người lao tới: “Nương tử! Sao nàng lại tới đây?”
“Tết đến rồi, tới thăm phu nhân.” Hoa khôi ôm lấy nàng, nháy mắt ra hiệu với Ô Nghiệt. Thái Tuế hiểu ý, lập tức đứng dậy bắt đầu nhìn lén bài của Mặc Tử, tiện tay tráo sạch bách những quân bài rồi tự thắng nốt ván cuối.
Năm đó Phong Đô có ước hẹn với Mặc Tử, cho phép hoa khôi được lưu lại đầu cầu Nại Hà năm năm. Tuy nhiên, cái gọi là gần quê lại chột dạ, Mặc Tử chẳng thường tới thăm hoa khôi. Đường đường là chủ nhân của đao Thỉ Hồng, đây có lẽ là chuyện nhu nhược duy nhất trong đời nàng. Ngay cả tết nhất cũng vậy, kéo quân rầm rộ mà tới, đánh bạc ầm ĩ, hận không thể náo loạn cả Phong Đô một phen, có lẽ cũng chỉ để nói với người ở cầu Nại Hà một câu:
Tôi đến ăn tết cùng nàng.
Vô Thường Tử vốn giỏi nhìn mặt đoán ý, bèn mang theo đứa con trai ba tuổi xuống đây, còn dặn dò từ sớm: “Một khi dì Mặc của con bắt đầu làm loạn, hãy mau đi mời mỹ nhân tỷ tỷ ở đầu cầu Nại Hà tới.”
Ô Tử Hư vừa tròn ba tuổi, vẫn còn là một đứa trẻ bụ bẫm lanh lợi, da trắng như ngọc, bọc trong lớp áo gấm hoa hòe hoa sói, cậu nhóc giờ này đang nắm tay hoa khôi, dáng vẻ vô cùng mãn nguyện. Lúc cha dặn dò, cậu còn hỏi lại đầu cầu Nại Hà có biết bao hồng nhan đoản mệnh, ai mới là mỹ nhân tỷ tỷ mà cậu cần tìm?
Cha cậu xua tay, bảo cậu bớt hỏi đi, cứ làm theo là được.
Đợi đến khi thấy cha mình và “ông Chu” say đến mức không ra hình người, nhóc Ô Tử Hư sải đôi chân ngắn cũn chạy đến đầu cầu Nại Hà. Đúng lúc thấy trên cầu dưới cầu người ngồi đông nghịt, những vong hồn mới chết đều chẳng buồn vội vã đầu thai, mà đang vây quanh một đại mỹ nhân ôm đàn tỳ bà. Nàng đương hát khúc “Xuân Đăng Mê”, là một khúc hát đón tết ở nhân gian.
Nhóc Ô Tử Hư lập tức hiểu ra câu “cứ làm theo” của cha có ý gì. Giữa vạn nghìn vong hồn nơi cầu Nại Hà, cũng chỉ có duy nhất chị gái này mới xứng là người trong mộng của dì Mặc.
Trẻ con nhà họ Ô đều trưởng thành rất sớm. Trong khi Tùng Vấn Đồng còn nhe nanh sữa chưa mọc đủ để sủa nhau với chó hoang, thì Ô Tử Hư đã vui vẻ nắm tay mỹ nhân tỷ tỷ rồi.
“Được rồi cháu ngoan.” Ô Nghiệt véo má cậu: “Mau buông tay ra, không là con điên Mặc Gia kia chặt mất móng gà của con bây giờ.”
“Bà nghĩ tôi hẹp hòi đến thế sao.” Mặc Tử một tay dắt hoa khôi, tay kia rút đao Thỉ Hồng ra, đưa tới trước mặt Ô Tử Hư: “Nào, bé con, lì xì năm mới!”
Vô Thường Tử và Chu Bạch Chi đều thoáng kinh ngạc. Kẻ không thuộc Mặc Gia mà có thể chạm vào đao Thỉ Hồng của Mặc Tử, đó phải là một cơ duyên to lớn đến nhường nào.
Ô Tử Hư vẫn chưa hiểu đạo lý này cho lắm, nhóc thử nắm chuôi đao, nhưng thanh đao cổ quá nặng, kêu “xoảng” một tiếng rơi xuống đất. Mặc Tử thấy vậy thì cười ha hả: “Thằng nhóc, đợi đến khi nào con nhấc nổi thanh đao này thì hẵng mơ tưởng đến mỹ nhân.”
Ô Nghiệt cười khẩy mỉa mai: “Chẳng qua là cưới được vợ thôi, nhìn ngươi đắc ý kìa!”
“Đó gọi là ăn không được nho thì chê nho chua.” Mặc Tử vênh váo tự đắc: “Tôi có mỹ nhân, bà có không?”
“Đủ rồi phu nhân, nàng lại uống quá chén rồi.” Hoa khôi mỉm cười, véo nhẹ vào phần thịt mềm bên eo Mặc Tử: “Đi thôi, về nhà cho tỉnh rượu.”
Bà lớn Thái Tuế thua mạt chược cả đêm, đang tức đến đỗi tóc muốn dựng ngược, lại thêm men rượu bốc lên, bị một câu nói của Mặc Tử kích động không chịu được. Nàng túm lấy Chu Bạch Chi mà hét: “Lão bất tử, biến cho gia xem!”
“Buông tay ra cho lão phu!” Chu Bạch Chi giận dữ gào lại: “Biến cái gì?”
“Biến mỹ nhân!” Ô Nghiệt gầm lên, khí thế nuốt trọn núi sông: “Chẳng phải chỉ là mỹ nhân thôi sao, ai mà chẳng có! Đây là địa bàn nhà họ Ô ta, lẽ nào để một kẻ thuộc Mặc Gia như ngươi độc chiếm thắng thế?”
Đường đường bà lớn Thái Tuế, uy nghiêm đủ đầy, vậy mà lúc này cũng bị chọc cho tức điên. Ô Nghiệt sống ở Phong Đô hơn nghìn năm, cũng chỉ có Mặc Tử đương nhiệm mới có thể khiến nàng nổi giận đến chừng này. Vòng kim xuyến nơi cổ tay nàng leng keng kêu vang, chẳng giống tà túy Thái Tuế chút nào, trái lại hệt như một tiểu nương tử đang làm mình làm mẩy.
Chu Bạch Chi bị nàng quát đến váng đầu, nghe theo bản năng. Lão già rau tóc bạc trắng lắc mình một cái, biến ngay thành một đại mỹ nhân ngực nở mông cong.
“Eo ôi…”
Ô Nghiệt tức thì chê bai không ngớt: “Cái thẩm mỹ thời Lý Đường gì thế này, ngực nhỏ đi một chút thì chết người à?”
Chu Bạch Chi đang say mèm bị chọc đơ người, hằn học vung chiếc khăn tay: “Thích thì lấy không thích thì thôi!”
Mặc Tử phun cả ngụm rượu ra ngoài, cười đến mức thiếu chút nữa đã chui đầu vào váy hoa khôi.
“Tết nhất đến nơi rồi, tết nhất đến nơi rồi.” Vô Thường Tử bế con trai, vội vàng rút bao lì xì giải vây: “Tới nào, đây là tiền mừng tuổi cho Vấn Đồng.”
“À đúng rồi, tiền mừng tuổi.” Mặc Tử cũng nhìn về phía Chu Bạch Chi: “Chu trưởng lão, trước sau gì ngài cũng thiếu tôi không ít tiền cược rồi, hôm nay xem chừng rượu cũng uống không hết, định lấy cái gì ra thế chấp đây?”
Chu Bạch Chi nâng cao cảnh giác, đôi mắt mỹ nhân láo liên: “Không biết Mặc Tử muốn thứ gì?”
Mặc Tử phun rượu ra lần nữa, chiếc váy của hoa khôi coi như xong đời. Ngay sau đó, nàng bị vợ xách tai lôi sang một bên, dặn lần sau phải mang xấp vải mới đến đền.
Mặc Tử thở ra một hơi, rượu mạnh cháy bỏng theo cổ họng trôi xuống, rồi hóa thành một luồng nhiệt dâng lên ngực. Nàng lau nước mắt vì cười quá nhiều, nói: “Nương tử à, con trai mình giờ cao bằng ống tiêu của dì Triệu rồi.”
Hoa khôi ngẩn ra, thốt lên: “Thế chẳng phải hơi thấp rồi sao?” Nàng có chút giận dỗi nhìn Mặc Tử: “Có phải phu nhân không chăm cho Tùng nhi ăn uống tử tế không?”
“Trời đất chứng giám.” Mặc Tử giơ cả hai tay lên: “Đó là con trai của chúng ta, lẽ nào tôi lại không chăm.”
Hoa khôi nửa tin nửa ngờ nhìn nàng, lát sau thở dài, rút một chiếc trâm vàng xuống, búi lại mái tóc rối cho nàng: “Tháng giêng lạnh lắm, đừng có ngày nào cũng ăn vận như hiệp khách xuân thu nữa. Người có gia có thất rồi, nhớ khoác thêm áo ấm.”
“Vâng vâng, nương tử.” Mặc Tử gật đầu lia lịa như gà mổ thóc: “Nhớ rồi, nhớ rồi mà.”
“Em có thêu một chiếc túi thơm cho Tùng nhi, nàng nhớ mang về cho con.”
“Con nít con nôi, có bản lĩnh thì sau này tự đi lừa con gái nhà người ta tặng, nó cần cái này làm gì, tặng cho tôi đi.”
“Nàng làm mẹ người ta mà nói năng thế à, không biết ngượng sao?”
“Ngượng gì chứ, trước mặt nương tử thì tôi cần gì phải giữ mặt mũi… kìa kìa kìa, dừng tay! Tôi sai rồi! sai rồi! Đừng nhéo! Đau! Tôi sẽ mang về cho thằng ranh con đó mà! Nương tử, đừng cắn! Về nhà để dì Triệu nhìn thấy là dì ấy lại mắng tôi một trận cho xem!”
“Cất kỹ vào, đừng có mà ăn chặn đồ của con đấy. Dạo này dì Triệu thế nào rồi?”
“Còn phải nói sao, dì ấy vui hết biết, đám đàn bà con gái ở quán nhạc cứ tranh nhau may quần áo cho con trai chúng ta, may cho nó một đống váy vóc…”
Đến khi Mặc Tử từ Phong Đô trở về, dương gian đã vào đêm. Dì Triệu đứng chặn ngay cửa Quan Sơn Nguyệt trong tiếng pháo nổ đì đùng, nhìn Mặc Tử đầu bù tóc rối, chống nạnh quát lớn: “Lại đi hoang ở đâu về đấy?!”
Mặc Tử ngáp một cái: “Đi thăm vợ.”
“Ở đâu ra lại lòi thêm một cô vợ nữa hả?”
Mày liễu của dì Triệu dựng ngược: “Tùng Bách Niên! Suốt ngày cô cứ hết đi thăm người này đến người nọ, hồ ly tinh nuôi hết ổ này đến ổ khác, cô còn biết lo cho con trai mình không?”
“Không lo được không?” Mặc Tử ngoáy ngoáy lỗ tai: “Bán cho bà ba đồng một cân đấy, mua không?”
Dì Triệu thét lên một tiếng giận dữ, vớ lấy cái chổi lông gà lao đến, Mặc Tử vội vàng né tránh, chạy toáng lên lầu. Quán nhạc hôm nay cực kỳ đông khách, dì Triệu đang đuổi giết nàng giữa đường thì bị khách chặn lại, dì vội vứt ngay cái chổi đi, vuốt lại tóc mai, xoạch một cái đã trở lại vẻ mặt hoa da phấn, dịu dàng thướt tha.
Mặc Tử nhặt lại được cái mạng, nhoài người ôm lan can lẩm bẩm: “Đàn bà thật đáng sợ.”
Dưới chân nàng bỗng vang lên một tiếng: “Gâu!”
Mặc Tử cúi đầu nhìn: “Đệch! thằng ngốc này, sao con lại ở đây?”
Ấy chính là Tùng Vấn Đồng đã quá ba tuổi. Đứa con trai này của nàng trông vừa thông minh vừa khờ khạo, đã biết nói biết đi, còn có thể cầm đao Thỉ Hồng múa may vài chiêu nửa thức, nhưng từ sâu trong xương tủy của nhóc con này hình như có chút máu điên. Biết nói nhưng chẳng chịu nói cho tử tế, biết đi cũng chẳng thèm đi cho đàng hoàng, suốt ngày sủa thi với chó hoang, chân tay kết hợp vừa lăn vừa bò, ai không biết lại tưởng nàng sinh ra cái giống lạ đời.
Mặc Tử bế con trai lên, lau sạch đôi chân nhỏ cho con, rồi bắt đầu lau mặt cho thằng bé. Nhìn qua là biết vừa bị đám ca kỹ giày vò xong, khắp mặt đầy vết son môi.
“Diễm phúc của con cũng không nhỏ đâu nhé, năm đó mẹ vì muốn lấy lòng đám nương tử này mà phải ném vào cả tấn vàng bạc đấy…”
Tùng Vấn Đồng cực kỳ tinh mắt nhìn thấy cái túi thơm treo trên cổ mẹ mình, há miệng định gặm. Mặc Tử vội vàng giật cái túi thơm lại: “Cái này không được! Đổi cái khác mà gặm, cái này là của mẹ!”
Tùng Vấn Đồng trừng mắt nhìn mẹ mình: “Gâu!”
Mặc Tử nhìn đứa con trai không chịu nói tiếng người, có chút sầu não: “Tết nhất đến nơi rồi, thương lượng tí nhé, con nói tiếng người được không? Nương của con mà thấy con thế này, nàng ấy sẽ giết mẹ mất.”
Tùng Vấn Đồng chắc nghe hiểu, nhóc ngẫm nghĩ một chút, sau đó lập tức bày ra vẻ mặt cười trên nỗi đau của người khác, dường như rất đắc chí khi thấy mẹ nó bị đuổi giết, cứ thế hớn hở sủa tiếp một tràng: “gâu gâu gâu”.
Mặc Tử quá hiểu con trai mình đang nghĩ gì, nàng đảo mắt một cái rồi quẳng đứa bé ra sau lưng, mặc kệ nó ôm đao Thỉ Hồng làm thanh mài răng. Lúc này nàng đang đứng trên tầng cao nhất của quán nhạc, bỗng nghe thấy tiếng chuông gió dưới mái hiên khẽ ngân, chỉ thấy ngoài cửa sổ có một con chim chân dài mỏ đỏ vừa đậu xuống, chính là Chu Bạch Chi.
“Ồ, Chu trưởng lão, biến thành mỹ nữ vẫn chưa đã ghiền sao?” Mặc Tử đẩy cửa sổ ra: “Lần này lại biến thành cái thứ gì đây?”
Chu Bạch Chi hứ một tiếng, lão ngậm một cái lồng đặt lên bậu cửa sổ, đẩy nhẹ vào trong: “Đây là món nợ đánh bạc mà Mặc Tử muốn, lão phu ngày mai sẽ tới đón, mong Mặc Tử đối đãi cẩn thận…”
Lời còn chưa dứt, Mặc Tử đã cười phá lên, hớn hở mở cửa lồng túm ngay con gà lông tạp đang ngủ say bên trong ra: “Đây là Tinh Túc Tử đời này sao? Chu trưởng lão, ông không phải tùy tiện tới chuồng gà nhà ai trộm một con về lừa tôi đấy chứ?”
Chu Bạch Chi vốn đã uống quá chén, nghe vậy tức đến phun cả Tam Muội Chân Hỏa: “Đây là thiếu chủ Chu gia! Con nhà ngươi mới là nhặt từ ổ chó về!”
“Ngài đừng nhắc, dạo này tôi cũng hơi cảm thấy thằng nhóc nhà tôi dám thuộc giống chó thật!”
Mặc Tử vòng tay kéo thằng bé từ sau lưng lên, rồi nhét con gà lông tạp vào tay nó: “Nào, quà tết cho con đây, mẹ dùng cái này đổi túi thơm với con nhé.”
Tùng Vấn Đồng ôm con gà lông tạp to gần bằng mình, nhìn trái ngó phải, bỗng nhiên lên tiếng: “Con không cần, con muốn túi thơm.”
Mặc Tử coi như không nghe thấy, quay sang hỏi Chu Bạch Chi: “Sao đứa nhỏ nhà ông cứ ngủ mãi không tỉnh thế? Ngủ đông à?”
“Dạo này là kỳ ngủ sâu của Ẩm Tiêu, chắc chắn là không tỉnh lại được đâu, Mặc Tử nhớ phải coi sóc cẩn thận…” Chu Bạch Chi chưa kịp nói hết câu, con gà lông tạp trong lòng Tùng Vấn Đồng không biết thế nào lại mở mắt ra, thấy một đứa bé lạ hoắc trước mắt, nó lập tức mổ mạnh một phát.
Bị Chu Tước mổ là chuyện chẳng chơi, trán Tùng Vấn Đồng liền bật máu.
Chu Bạch Chi tái mặt: “Ẩm Tiêu, không được vô lễ!”
Mặc Tử thì chẳng mấy bận tâm, nàng đặt hai đứa nhỏ xuống đất, vây thành một cụm: “Được, tôi thấy ổn đấy, hai đứa tự chơi với nhau đi.”
Tùng Vấn Đồng bị mổ đau, nhìn con gà lông tạp hồi lâu, gật đầu bảo: “Công phu của mày cũng được đấy! Đi, tao dẫn mày đi đánh chó.”
Còn về việc tiểu Mặc Tử và tiểu Chu Tước đại chiến ba trăm hiệp với chó hoang ngoài phố như thế nào, rồi vì sao dì Triệu lại có thêm một cây chổi lông gà vàng chói, đó là chuyện về sau.
…
Thành cổ.
Mộc phủ hôm nay hiếm hoi náo nhiệt.
Gần đây quân đội chỉnh đốn, Mộc tư lệnh cuối cùng cũng được về nhà ăn tết, tiện thể dẫn theo con trai và bốn vị tham mưu trưởng. Một đám đàn ông vai u thịt bắp chen chúc nhau trong bếp.
Nhóc Mộc Cát Sinh túm gấu quần cha mình, leo lên vai ông, rồi lại nhảy sang người bốn vị tham mưu trưởng, giống như đang leo trên năm cái cây cao lớn vậy.
“Vị canh này không đúng, chua gắt chua lét.” Đại tham mưu là người Đông Bắc, quẳng cái muôi sang nồi của nhị tham mưu, la lớn: “Anh em nhìn cái muôi này đi! Tư lệnh, muôi nhà ngài dùng để nhuộm tóc à? Đen thui!”
“Đen thật.”
Nhị tham mưu bình tĩnh vớt cái muôi ra: “Nhưng vẫn trắng hơn mặt tư lệnh.”
“Ê, tôi nói này, ớt bỏ một nhúm là được rồi! Đừng có cho cả đống! Bỏ nguyên rổ ớt vào ăn cho chết hả?” Tam tham mưu quê Hà Nam, giật phắt hũ ớt trong tay tứ tham mưu: “Tôi đã bảo mấy ông Hồ Bắc không biết nấu ăn mà, né sang một bên đi!”
Tứ tham mưu người ác lời ít, trực tiếp ấn mặt tam tham mưu vào bồn nước, hai người lập tức lao vào cáu xé nhau. Nhị tham mưu lặng lẽ nhận lấy cái chảo sắp cháy khét, rồi tiện tay ném luôn mớ ớt mốc meo ra ngoài.
Riêng về phần Mộc tư lệnh, ông vốn là người sáng lập trường phái “ẩm thực dã thú” được toàn quân công nhận, đặc biệt tinh thông đao pháp hoang dã kiêm món cơm thừa trộn tạp. Mộc tư lệnh vừa bước vào bếp đã bị cấp dưới tước quyền, đày đi làm chân nhóm lửa đun nước, lúc này ông đang ôm ca tráng men thong dong uống trà.
“Cha…” Mộc Cát Sinh kéo ống quần cha mình: “Con đói, bao giờ có cơm?”
“Không gấp.”
Tư lệnh nhổ bã trà vào ca: “Mợ ba với mợ tư con mới đánh nhau, không quần nhau hai tiếng đồng hồ thì chưa xong đâu.”
Mộc Cát Sinh lập tức không thèm đếm xỉa đến cha mình nữa. Có sữa là mẹ, không cơm chẳng phải cha. Nhóc liền chạy đến kéo ống quần của nhị tham mưu, người trông có vẻ đáng tin nhất: “Mợ hai, bao giờ mới được ăn cơm ạ?”
Nhị tham mưu tốt nghiệp Trường võ bị lục quân, là nhân tài cao cấp, phong thái điềm đạm nho nhã. Nhưng câu “quân tử tránh xa nhà bếp” cấm có sai, chỉ cần bước vào bếp, kẻ trí thức cũng sớm mất hết phong độ: “Anh đừng có bỏ thêm Natri Clorua nữa!”
Nhị tham mưu quăng cái xẻng nấu ăn, gào lên với đại tham mưu: “Ăn mặn quá là chết người đấy!”
“Ối giời ơi đồ xúi quẩy này, sao chú không biết điều thế nhỉ, nấu ăn là phải bỏ muối, chú ngửi cái hương thơm này đi…”
Ba người đàn ông thì thành một vở kịch, bốn người đàn ông là một trận hỗn chiến, năm người đàn ông thì nổ tung cả gian bếp. Mộc Cát Sinh nhìn cảnh lá rau bay tứ tung, nước lửa phun loạn, còn cha cậu thì vẫn thản nhiên ôm ca tráng men đứng như xem tuồng. Cậu dứt khoát bỏ cuộc, lén thò tay vào túi quần nhị tham mưu móc tiền, tự mình chạy ra ngoài kiếm ăn.
Đêm giao thừa, hiếm có hàng quán nào mở cửa. Mộc Cát Sinh chập chững chạy khắp thành, ham chơi đến mức quên cả đói. Gánh hoành thánh ở phía đông thành vẫn còn mở, cả thành đều biết cậu là con trai Mộc tư lệnh, nên chẳng ai lấy làm lạ khi thấy bé con nhỏ xíu nửa đêm được thả ra ngoài chạy rông như vậy, ông chủ gánh hoành thánh cười hỏi: “Tiểu thiếu gia sao không ở nhà đón tết?”
Mộc Cát Sinh cắm cúi ăn không ngẩng đầu, lát sau mới đáp: “Phía sau nhà con cháy rồi, mấy bà vợ của cha đánh nhau, chẳng ai lo cho con cả.”
Ông chủ sững người, bụng bảo dạ: Người ta đều nói Mộc tư lệnh là kẻ si tình, vợ cả mất rồi cũng không tái hôn, mấy năm nay người đến cửa mai mối cũng ít, sao tự nhiên lại lòi đâu ra mấy bà vợ thế này?
Chưa kịp hỏi thêm, đã có một vị khách khác ngồi xuống cạnh Mộc Cát Sinh. Đó cũng là một đứa trẻ, nó bưng một cái bát sứ chứa đầy tiền đồng: “Ông chủ, phiền ông cho hai bát hoành thánh, một bát mang về.”
“Lâm thiếu gia đêm giao thừa còn xuống núi sao?” Ông chủ múc một bát hoành thánh ra, bát còn lại thì gói kỹ cho nóng: “Đây là mang về cho Mạc tiên sinh à?”
“Sư phụ có lệnh, bảo con phải đổ đầy bát này rồi mới được về.” Lâm Quyến Sinh chỉ vào cái bát sứ đầy tiền đồng trên bàn, nghiêm chỉnh bắt đầu ăn, dáng bộ ăn uống chỉnh tề đối lập hẳn với Mộc Cát Sinh đang ăn như chó đói bên cạnh.
Mộc Cát Sinh ăn nhanh, thoắt cái đã buông bát, cậu bị dáng vẻ như ông cụ non của Lâm Quyến Sinh thu hút: “Này, người lớn nhà anh cũng không cho anh ăn cơm sao?”
“Đâu chỉ là không cho ăn, tôi còn phải nấu cơm cho ông ấy nữa cơ.” Lâm Quyến Sinh thở dài, dáng vẻ như sắp khóc: “Tôi mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được người ta nhận nuôi, tết nhất thế này mà vẫn phải ra ngoài kiếm tiền…”
Lòng trắc ẩn của nhóc Mộc Cát Sinh lập tức trào dâng: “Anh là con cái nhà ai? Hay là về nhà em ăn cơm đi?”
Lâm Quyến Sinh lại thở dài: “Nếu nhà cậu có cơm ăn, thì cậu đã chẳng phải nửa đêm chạy ra đây ăn hoành thánh.”
Mộc Cát Sinh bị nghẹn họng, đúng không thể cãi được: “Vậy… vậy em có thể giúp gì được cho anh không?”
Lâm Quyến Sinh lén chấm ngón tay vào bát giấm, nhanh nhẹn quệt lên mắt, nước mắt liền chảy ròng ròng: “Tôi… nhà tôi làm nghề xem bói, tiểu thiếu gia nếu muốn giúp tôi thì xem một quẻ được không?”
Vừa nói vừa sụt sịt mũi: “Quẻ nhỏ mười văn tiền, quẻ vừa hai lạng bạc. Sư phụ nói nếu tôi xem chưa đủ ‘chỉ tiêu’ thì không cho tôi về nhà…”
Ông chủ hàng hoành thánh: “…”
“Xem, xem, xem quẻ đắt nhất.”
Mộc Cát Sinh lập tức móc tiền: “Ơ mà hai lượng bạc là bao nhiêu nhỉ, em đưa anh đồng đại dương được không?”
Nói đoạn, nhóc dốc hết sạch tiền trong túi quần đưa cho Lâm Quyến Sinh. Lúc này cậu nào biết số tiền đó đâu chỉ có hai lượng bạc, về nhà chắc chắn sẽ bị mợ hai mắng cho vuốt mặt không kịp.
“Tạ ơn thiếu gia ban thưởng, chúc cậu năm mới cát tường.” Lâm Quyến Sinh nhanh chóng vơ vét tiền bạc, cũng chẳng khóc nữa, cậu lấy ra vài đồng tiền Sơn Quỷ tung lên, rơi xuống mặt bàn thành một quẻ. Đồng tiền cảm nhận được người có duyên, phát ra tiếng rung cực thấp.
“Cái chiêu tung đồng tiền này của anh thật đẹp mắt, dạy em được không?” Mộc Cát Sinh sáp lại gần: “Đây là quẻ gì? Có tốt không?”
Lâm Quyến Sinh cúi đầu nhìn, hơi ngẩn ra một chút, lát sau mỉm cười: “Tốt, là quẻ cực tốt, mệnh của thiếu gia định sẵn sẽ gặp được quý nhân.”
Mộc Cát Sinh thầm nghĩ:
Quý nhân của cha mình cũng nhiều lắm, chẳng phải vẫn đang đánh nhau ở hậu viện đấy sao!
Tiếng pháo nổ tanh tách, lại một năm mới sang, ánh đèn rực sáng khắp thành cổ. Lâm Quyến Sinh và Mộc Cát Sinh ngồi tụm lại một chỗ, kẻ lừa đảo đang dạy cho vị kim chủ “oan gia” của mình cách tung đồng xu sao cho dứt khoát và đẹp mắt.
Giữa thành Bắc Bình, pháo hoa rợp trời, Sài Nhẫn Đông dẫn theo một nhóm kỹ nữ trong Bát Đại Hồ Đồng trèo tường vào phủ nhà mình để ăn dược thiện.
Các cô kỹ nữ cảm thấy thân phận mình thấp hèn nên có hơi nhút nhát, Sài đại tiểu thư liền vỗ ngực bảo cứ yên tâm đi, tầm này chắc cha mẹ cô đang ngủ khò trong bếp rồi.
Phía sau bức tường, Sài phu nhân một tay bế con trai, một tay xách cổ chồng, thở dài một tiếng rồi lặng lẽ đi cửa sau rời phủ, tới nhà hàng đã đặt sẵn để ăn bữa tất niên. Chừa lại cả phủ náo nhiệt cho con gái dẫn bạn về.
Tại Phong Đô, Vô Thường Tử dẫn con trai đi dạo chợ ma xem bách hý. Thiếu
nữ đang tung cầu hoa trên mười hai tầng án mỉm cười xoa đầu đứa trẻ, đưa cho nó một quả cầu hoa để chơi. Chu Bạch Chi đứng bên cạnh thấy thế hừ lạnh: “Tu vi năm trăm năm mà lại đem ra làm trò đùa trong bàn tay con trẻ.”
Thiếu nữ đáp trả một câu khiến lão cứng họng: “Chẳng thấm vào đâu so với việc ngài đem cháu trai mình đi gán nợ đánh bạc đâu.”
Tùng Vấn Đồng đang dẫn theo con gà lông tạp đại chiến với lũ chó hoang trong ngõ nhỏ, đao Thỉ Hồng bị nó lôi đi làm gậy đánh chó. Mặc Tử đứng trên lầu cao, ung dung thổi tiêu.
Hoa khôi nơi đầu cầu Nại Hà dường như có cảm ứng, nàng xoay trục gảy đàn, từ xa họa theo, trời đất nhân gian cùng vang một khúc.
Đêm khuya, tăng nhân chùa Bạch Thủy gõ chuông cầu phúc. Lâm Quyến Sinh men theo đường núi đi lên, cuối cùng cũng trở về thư trai. Cậu nhìn Ngân Hạnh trai chủ đang nhắm mắt nghe chuông bên bờ nước, khẽ gọi một tiếng: “Sư phụ.”
“Về rồi à?” Mạc Khuynh Bôi quay đầu nhìn đệ tử, mỉm cười: “Thu hoạch hôm nay thế nào?”
Lâm Quyến Sinh ngẫm nghĩ một chút rồi đáp: “Hôm nay đệ tử gieo được một quẻ tượng rất kỳ lạ.”
“Ồ? Là dạng gì?
Lâm Quyến Sinh lấy mớ tiền Sơn Quỷ ra, bày thành một hình thù dưới đất. Mạc Khuynh Bôi nhìn sang, lát sau y cười thành tiếng.
Trong thư trai, tiếng chuông vang lên từng hồi. Lâm Quyến Sinh nghe sư phụ nói: “Đây gọi là
Vạn Niên Thanh
.”
“Vạn Niên Thanh?”
“Quẻ này hiếm lắm, cả đời sư phụ cũng chỉ gặp một lần.”
Không nhớ rõ đó là chuyện từ bao nhiêu năm về trước, khi thái bình thịnh thế, biển lặng sông trong. Tiểu sa di đến Bồng Lai ăn tết, cùng Trường Sinh Tử đánh cờ dưới trăng. Mạc Khuynh Bôi thừa dịp sư phụ đang dốc hết tâm trí chơi cờ, y rút kiếm lướt tuyết mà đi, chạy lên Kiếm Các uống rượu với Họa Bất Thành. Cao hứng, hai người đối ẩm ngâm ca, tuy chẳng thành văn chương thi pháp gì, nhưng lại là một trận say sưa hiếm có.
Đem vàng dưới gối ta, dâng làm sính lễ thời gian.
Đúc đồng trong xương ta, tôi thành kiếm chém Chúc Long.
Người có thấy thần phật khép mi, đại mộng tan.
Ta nguyện theo việc điểm nhãn Tăng Dao, lấy máu tim làm bút.
Xé toạc màn đêm, nhuộm lên ánh trăng ngà.
Đến câu cuối, y chợt nhớ lại quẻ bói mà Thiên Toán Tử đã gieo lúc đến, lập tức bật cười, vung bút viết nhanh.
“Lấy đêm lành ta có làm cược, vay xin một thuở vạn niên thanh.”
[ Edit by TeiDii ]
